VỀ CẢI TỔ NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM: THỜI KỲ TỪ NĂM 1990 – 1997

MẢNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN.ĐỤNG CHẠM đến ông anh Dương Mạnh Cường rồi đây. Tôi cũng đã “bịt chặt tai”, chuẩn bị sẵn về tâm lý để nghe ông anh “MỈA MAI” cay như ớt, nếu những điều viết ra không được chính xác. Lại hai cái từ “lặp đi lặp lại” – cải tổ.Vậy mảng tài chính kế toán của Vietnam Airlines được cải tổ như thế nào thời kỳ đầu, từ năm 1990 – 1997?Trong bài này, nếu kể về anh Cường – thì tôi chỉ tập trung vào những việc anh đã làm được cho mảng tài chính kế toán của VNA cho đến trước khi tôi nghỉ vào cuối 1996. Thời gian sau đó, anh “chìm nổi” ra sao, tôi không hề biết. Còn việc anh Cường không ngại bất cứ điều gì, nhiều hôm “đội mưa xông gió”, chở tôi đi thuyết phục các ban ngành nhà nước để ủng hộ việc cải tổ của VNA, để cấp trên chấp nhận mô hình tổ chức, bộ máy – và đặc biệt ủng hộ chủ trương của chú Nhị và anh Tứ trong việc BỔ NHIỆM MỘT LOẠT CÁN BỘ “miệng còn hơi sữa”, đang ở lứa tuổi chỉ trên dưới 30 – vào các vị trí then chốt của mảng thương mại và dịch vụ, tôi sẽ có bài kể “dông dài” sau, đảm bảo nhiều chuyện “cười ra nước mắt”. Để chuẩn bị cho cải tổ mảng tài chính kế toán, vào quãng cuối năm 1992, anh Cường được điều sang làm Phó phòng thương mại, thuộc Ban Vận tải. Cái quyết định dường như là “trái khoáy” đó cũng làm nhiều người thắc mắc. Về ý định “thâm sâu”, chú Nhị và anh Tứ biết rõ là để giữ an toàn lâu dài cho hoạt động thương mại, thì người sếp tương lai của Ban Tài chính kế toán phải hiểu thật rõ các nhu cầu chuyên môn về thương mại, rồi thực hiện các đầu việc chuẩn bị cho việc cải tổ và thực hiện cơ cấu tổ chức mới:1. Việc quan trọng đầu tiên phải làm ngay: là chiếu theo các quy định về quản lý tài chính của nhà nước, trên cơ sở hoạt động cụ thể của bộ phận thương mại, chủ trì viết các QUY CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH, cụ thể là:- Quy chế phân cấp, phân quyền quản lý tài chính- Quy chế quyết định và quản lý giá – Quy chế quản lý tiền: cả ngoại tệ và tiền Việt.- Quy định về ký kết các hợp đồng kinh tế – Quy chế lập và sử dụng các quỹ: phúc lợi, khen thưởng- Quy chế quản lý kế toán hạch toán theo kiểu quân đội sang chế độ hạch toán dân sự, theo luật kế toán nhà nước Việt nam. – …Để có bộ quy chế khá hoàn chỉnh khi Tổng Công Ty HKVN tách ra vào t5/1993, thì việc có Bộ Quy Chế quản lý tài chính là điều tối quan trọng. Và anh Cường chính là nhân vật quan trọng nhất trong việc chủ trì hoàn thành bộ quy chế đó. Tháng 5/1993, Ban Tài chính kế toán được cải tổ mô hình, giải tán một số phòng, cũng lập thêm phòng mới. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành hàng không, phòng tài chính có thêm nhiệm vụ “Đầu tư tài chính”, và “Luân chuyển tiền tệ – cash flow)”. Nói thật, hồi đó chắc ít ai ở Việt nam nghe đến hai từ tiếng Anh “Cash flow”, cũng chẳng biết đó là cái chủng gì. Ngây thơ ngớ ngẩn hết cỡ đến vậy đó. Anh Cường được bổ nhiệm Quyền Trưởng ban Tài chính kế toán, Phó ban là anh Tiến, với các Trưởng phòng là anh Vĩnh, anh Thìn và anh Yên, dàn Phó phòng chủ yếu là lực lượng trẻ cỡ tuổi tôi: Hoàng Tiến Dũng, Nguyễn Châu Liên, Trần Hồng Phương. Cứ nghĩ đến Châu Liên và Hồng Phương, là tôi lại ngạc nhiên tự hỏi: “Làm sao mà hội đó làm việc được với anh Cường nhỉ, bọn nó thẳng tưng và gấu chắc ngang tôi”. Rồi chợt hiểu ra: “À, ông này chỉ hợp làm việc với cái bọn ngang như cua, ưa nói thẳng, vì ông anh thiếu nên cần cái cách nói thẳng đó”. Tôi chỉ chăm chăm tập trung nhiều vào mảng thương mại và dịch vụ, nên không để ý gì về nhân sự ban đó. Cho đến quãng 1994, hơn một năm sau khi thành lập Tổng công ty, thì tôi chợt nghe là anh Cường “mất chức” trưởng ban. Tôi có xông ra gặp chú Nhị để hỏi, thì được giải thích là anh Cường đang là Quyền Trưởng ban, anh Duật được bổ nhiệm Trưởng ban mới. Khi tôi hỏi “tại sao”, thì cụ giải thích là rất nhiều người không ưa anh Cường, nói là anh ấy không thẳng thắn. Khi tôi nói: “Con thấy anh ấy không phải là không thẳng thắn, mà là cái cách anh ấy nói hay để cho người khác phải đoán ý, đấy là kiểu của dân Hà thành chính gốc con chuồn chuồn đấy bố ơi”. Chú Nhị cũng nói với tôi là: “Khi được hỏi là có làm được Trưởng ban không, thì anh trả lời là “sợ làm không nổi”. Trời ơi là trời, lại cái kiểu nói “lẩy” thế, thì người thẳng tưng như chú Nhị làm sao mà đoán ý. Chẳng thà nói thẳng ra ngay: “Tôi sẽ làm được với các điều kiện…”. Hình như nhiều người còn bịa chuyện “mách” với chú Nhị rằng: “Anh Cường không học đại học”? Sự thật là anh học chuyên ngành tài chính tại Liên xô cũ. Tôi nghĩ anh Duật làm rất tốt vai trò của một Trưởng ban kế toán (hoặc là kế toán trưởng) – vì anh được đào tạo chuyên ngành về kế toán. Nhưng mảng tài chính, nếu anh Cường là Trưởng ban, sẽ tốt hơn nhiều cho sự phát triển ngành. Khi làm việc với anh Cường, tôi không thấy có vấn đề gì, vì nếu anh ấy không nói thẳng, thì tôi “bốp chát” luôn theo kiểu: “Này ông nói thẳng ra đi, tóm lại là thế nào, không loanh quanh nữa mất thời gian”. Nhưng hầu hết mọi người không hiểu rõ cái văn hóa “LẨY LÓT” rất Hà thành của dân Hà nội gốc – cái cách nói năng và cư xử được coi là “gia giáo lịch thiệp” theo kiểu truyền thống hồi đó. Mọi người điểm mặt thêm xem có các cán bộ nào cũng “mang trong mình” cái gia giáo kiểu đó nữa nhé. Hội những người đó mà nói mỉa, lườm nguýt, thì có mà CAY HƠN ỚT CHỈ THIÊN đấy. NHƯNG TRONG CÔNG VIỆC: nguyên tắc là hãy nhìn vào kết quả công việc người đó làm được. Cũng vì cái “dở hơi” đó của anh Cường, nên có những người trong và cả ngoài Ban lãnh đạo công ty không ưa, hay nói xấu, công kích anh. Thêm điều nữa: vì anh học tài chính cùng với các cán bộ cấp cao, nên quen biết nhiều – phải chăng cũng làm cho nhiều người “e ngại”? Vả lại, anh Cường không phải là người biết nịnh trên. Nhắc lại lần nữa anh Dương Mạnh Cường nhé: nếu thông tin em “gom nhặt” được có chỗ nào thiếu chính xác, thì cứ nói thẳng tuột ra, không dùng võ “lẩy” kiểu Hà thành, là em tru tréo lên cho mà điếc tai đau đầu đấy. Giá mà tụi mình còn trẻ, thì em sẽ vận đủ bài để anh phải thay đổi vài thói quen của người Hà thành, nhất là cái đoạn bắt người khác đoán ý, và mỉa mai – mà cũng vì thế nên đời làm việc của anh cũng khá “LÊN BỜ XUỐNG RUỘNG” ĐẤY CHỨ.

Leave a comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.